Nghiệp văn chương
Tôi nghĩ Ba là người cầm bút thật, theo cái nghĩa rất giản dị: Ba viết không phải để ai khen, càng không phải để thành thi sĩ nổi danh. Ba viết vì không viết thì bứt rứt. Viết, với Ba, như một bản năng đã ngấm vào huyết mạch. Có lúc ngôn từ tuôn ra tự nhiên như hơi thở. Dẫu đôi lúc, cuộc đời dồn Ba vào chỗ phải lo miếng ăn, chữ vẫn nằm ẩn đâu đó trong người, như một thứ gỡ ra không được.
Nhưng nói cho đúng, cái nghiệp ấy của Ba không phải tự nhiên mà có. Nó có một thời khởi đầu rất rõ, thời Ba còn là sinh viên, còn là một chàng thanh niên tin rằng mình có thể sống bằng chữ, và có thể trở thành “thi sĩ” đúng nghĩa. Ba học Văn khoa Huế. Ba từng kể hồi đó Ba học hai ngoại ngữ, tiếng Pháp và tiếng Anh, trong đó tiếng Pháp là ngoại ngữ chính. Cái nền đó theo Ba suốt đời: thói quen đọc, thói quen ghi, và cái thói quen hơi “khó chịu” của người quen chữ nghĩa, nghe một điều gì cũng muốn thử lại, đối chiếu lại, không vội bằng lòng.
![]() |
| Ba ở cảng Đà Nẵng |
Tôi vẫn hình dung những năm đó Ba mê thơ như bướm mê vườn hoa đẹp. Ba thần tượng thi sĩ Hàn Mặc Tử. Có lẽ vì vậy mà Ba chọn bút danh Hàn Mạc Lang—một cái tên nghe đã thấy cô đơn, thấy lãng tử. Nhưng thơ Ba không đi theo Hàn Mặc Tử. Những vần thơ còn lưu lại có thể giúp tôi nhận ra điều đó. Nếu Hàn Mặc Tử đi vào những miền mộng tưởng dữ dội và cuồng nhiệt—một thế giới trăng, máu, linh hồn, những cơn bốc lên như thị kiến—thì thơ Ba lại mộc mạc, đơn sơ và gần gũi. Nó không phải thứ thơ đưa người đọc vào thế giới huyền ảo. Thơ Ba rất hiện thực, là thứ thơ có thể sờ, có thể nắm. Thơ Ba ở lại với căn nhà, với người con gái Ba thương, với đời sống gia đình, với những giấc mơ rất đỗi bình thường:
Anh mơ rằng ngày sau
Em với anh chồng vợ,
Ấp nhau bằng hơi thở,
Không bao giờ xa nhau.
“Mai” và “Giấc mơ của anh” thật ra là thơ tình Ba nhờ bạn bè gửi để… tán Má. Cái thời mà thanh niên đương thời không còn chờ ba mẹ đặt đâu để ngồi đấy, họ gửi gấm tình cảm vào trang giấy trắng để gửi cho người mình thương hay để giữ kín cho riêng mình. Khi Má im lặng lâu quá, Ba thẩn thờ buồn. Ba lại viết “Xuân Sầu” rồi nhờ một người bạn chuyển tiếp. Một người bạn đặc biệt. Đó là anh Vĩnh, cháu ruột của Má mà lại cùng tuổi với Ba. Nhờ chính người bưu tá nhiệt tình đó mà sau này chúng tôi mới lần ra được thơ của Ba để xin chép lại. Chứ Ba và Má đều không nhớ. Ba không mang theo được tập thơ của mình, mà ký ức về thơ cũng rơi mất theo những lần đời bứng gốc.
Điều tôi tiếc nhất vẫn là năm 1974. Khi công việc đã tương đối ổn định, Ba và Má đã tự in một tuyển tập thơ của Ba để tặng bạn bè. Tự in thời đó không phải chuyện chơi. Nó là một việc làm nghiêm túc của người cầm bút: gom chữ của mình lại thành một quyển, trao cho người khác như trao một phần đời. Vậy mà 1975 loạn lạc, rời Pleiku, Ba không đem theo được quyển nào. Mất sạch. Và buồn hơn nữa: Ba cũng không còn nhớ bài nào của chính mình. Một người viết nhiều mà về sau lại phải nhờ người khác giữ hộ chữ của mình, nghe tưởng chừng vô lý, nhưng đời có những đoạn nó nghiệt ngã như vậy.
Ba không chỉ làm thơ. Những năm 1977-1978, Ba với chú Hùng còn viết kịch bản hát vọng cổ cho đoàn văn nghệ địa phương. Thỉnh thoảng Ba dạy tôi ca thử. Tôi còn nhớ mơ hồ một câu “em ơi, ta hãy chung tay xây dựng quê hương, dù gian nguy khó khăn cũng coi thường". Có thể Ba đã viết nhiều bài tuồng ca cổ. Nhưng những thứ Ba viết lại không ở lại với Ba, cũng không được lưu lại nên có khi ngay cả anh chị em tôi không phải ai cũng biết.
Về sau, tôi hay nói với Ba về thơ Đường. Tôi thích cái khuôn phép, thích cái luật bằng trắc, thích cái cảm giác chỉn chu của một bài thơ bị “gò” mà vẫn bay. Tôi không chắc Ba đổi cách làm thơ hoàn toàn vì tôi, nhưng tôi thấy rõ Ba có một giai đoạn thơ “Tết” viết chặt hơn, có ý tứ hơn, có vần điệu ngay ngắn hơn. Những bài chúc xuân của Ba, nhất là những bài có câu tứ và niêm luật phảng phất, vừa cho thấy Ba vẫn ham chữ, vừa cho thấy Ba biết tự làm mới mình.
Học hành thi cử con thành đạt;
Tính toán làm ăn vợ thỏa thuê;
Cửa nhà, cơm áo thêm nhiều mặt,
Tiền bạc, tư trang khá mọi bề.
Có một thứ chữ nghĩa của Ba mà không nằm trên giấy. Nó nằm trong giọng kể, những đêm trước khi ngủ. Hồi đó, điện hay cúp dù nhà tôi ở dưới chân thủy điện Đa Nhim. Mùa hè Phan Rang nóng, ít mưa, thiếu nước. Trong thôn Mỹ Đức chúng tôi, cả làng chỉ có một cái giếng nước lợ. Nhà nào cũng có cái bể nước xây nổi để chứa nước mưa, thường gọi là bể cạn. Nhà tôi còn có tới hai cái, một cái nhỏ, một cái lớn. Vào những đêm hè, cả nhà lại cùng nằm trên cái bể cạn đó, nhìn lên trời, nghe côn trùng kêu và chờ Ba bắt đầu câu chuyện. Ba kể theo kiểu truyện kiếm hiệp. Nhưng không phải kiếm hiệp trong sách. Kiếm hiệp của Ba có người thật trong nhà. Ba là một đại hiệp. Kẻ thù của Ba thì lúc ẩn lúc hiện. Đám con nít chúng tôi vừa là nhân vật vừa là khán giả, bị kéo tuột vào một thế giới mà Ba dựng lên. Nó hào hứng, hấp dẫn vì chúng tôi là những nhân vật trong câu chuyện, được Ba kể bằng một nhịp chậm rãi, bằng cái cách Ba biết ngừng đúng lúc để người nghe nóng ruột.
Tôi nhớ rõ cái cảm giác háo hức đó: mong tới giờ đi ngủ không phải để ngủ, mà để được nghe tiếp. Mỗi lần Ba dừng lại, tôi thấy như bị hụt hẫng. Mà lạ là, đến bây giờ chẳng ai nhớ Ba kể gì, cốt chuyện ra sao. Cái trí nhớ của chúng tôi giữ lại không phải là tình tiết, mà là vài mảnh sáng: Má dắt díu mấy đứa trốn trốn chạy chạy, lẩn qua những chỗ tối, né người truy đuổi, như thể cả nhà đang sống trong một cuộc đào thoát dài. Đến tối hôm sau, Ba hỏi: hôm trước Ba kể tới đâu rồi? Chúng tôi nhìn nhau, rồi trả lời bằng đúng một câu mà ai cũng thuộc: “tới chỗ bốn mẹ con xuống thuyền.” Câu đó lập đi lập lại hoài, như một cái mốc. Có khi tôi nghĩ, câu ấy nằm lại trong chúng tôi không phải vì nó quan trọng với cốt truyện, mà vì nó giống đời sống thật của gia đình tôi hơn bất cứ đoạn kiếm hiệp nào: Má dắt con đi, lầm lũi mà bền bỉ; còn Ba, dù làm đại hiệp trong truyện, rốt cuộc vẫn là người dùng chữ nghĩa để che chở cho cả nhà qua một đêm nóng không đèn và cuộc sống nhiều lúc thiếu thốn và mờ mịt như lần lũi đi giữa màn đêm.
Có lẽ đó mới là điều làm tôi tin Ba là một văn sĩ thật thụ. Không phải vì Ba có “tác phẩm để đời”. Mà vì Ba từng sống một thời như một thi sĩ, rồi bị đời bắt phải bỏ lại thơ của mình, nhưng rốt cuộc vẫn không bỏ được chữ. Chữ nghĩa của Ba chuyển hình: lúc là thơ tình gửi đường vòng cho Má, lúc là thơ sầu vì không được hồi âm, lúc là kịch bản vọng cổ cho đoàn văn nghệ, lúc là chuyện kể đêm cho con, lúc là thơ chúc Tết vừa nghiêm vừa đùa. Nó không ở lại thành một tập thơ. Nó ở lại thành một nếp sống. Và nếp đó, hình như mới là “nghiệp” đúng nghĩa.
Những ngã rẽ
Từ Cầu Hai ra Huế: Ba gặp Má, cưới Má, rồi từ Cầu Hai đi ra Huế. Cái rẽ đó, bề ngoài là chuyện lấy vợ, chuyện đi học, chuyện mưu sinh. Nhưng bên trong là một người trai trẻ bước ra khỏi làng xóm quen, mang theo trong người một thứ tin tưởng rất “thời đó”: có chữ thì sẽ sống được. Rồi chiến cuộc kéo tới, quân dịch kéo tới, và Ba bắt đầu học một bài học cay: đời không cho mình đi thẳng theo điều mình muốn. Ba không được đi dạy nữa mà phải đi quân dịch. Biết Ba có tài viết lách nên cấp trên giữ lại làm việc ở văn phòng. Sau đó Ba chạy vạy để ra quân. Rồi sự việc bị phát hiện. Ba phải trốn chạy.
Thay tên, đổi tuổi: Năm 1969, Ba và Má thay đổi tên tuổi để trốn quân dịch, rồi lên Pleiku lập nghiệp. Ba không còn là Nguyễn Văn Lang sinh năm 1941 mà là Nguyễn Duy Tâm sinh năm 1930 và Má không phải là Tôn Nữ Mộng Hoàng, sinh năm 1943 nữa mà thành Tôn Nữ Thiên Phương, sinh 1938. Thay tên đổi tuổi nên Ba Má không có giấy tờ để xin việc. Những ngày đầu ở trọ, buôn bán trên miền thượng, chắt chiu từng chút. Sau đó, nhờ các cha, Ba đi dạy ở trường Minh Đức, rồi cuối cùng xin vào Hội Hồng Thập Tự làm thư ký.
Cơn ác mộng và một lần tưởng sẽ được trở về: Loạn lạc 1975, gia đình di tản vô Sài Gòn. Ba tưởng như năm 1968: rồi sẽ quay lại được, nên không đem theo tài sản. Nhưng lần này khác. Đất nước thống nhất. Ba không dám về Pleiku nữa. Sài Gòn lại là một thế giới hỗn độn, đầy dẫy những nguy cơ mà người có gia đình rất sợ: sợ bị đối xử bất công, sợ ly tán, sợ con cái bị cuốn đi. Rồi Ba dẫn cả nhà trở về Cầu Hai với hy vọng quê hương sẽ chở che để được sống yên bình. Tâm trạng mà Ba đã viết trong hồi ký: "Lúc bấy giờ gia-đình đang trãi qua cơn ác-mộng kinh-hoàng bỏ cả gia-tài sự-nghiệp từ Pleiku chạy về Saigon và từ Saigon trở lại quê-hương của Ba Má.", "tất cả gia-tài của cải Ba Má dành dụm cho các con qua bao nhiêu năm ở Pleiku đều bị cướp mất hết. Ba má về quê với ít vốn-liếng còn lại cùng với tương-lai mù mịt".
Cái đồng hồ oan nghiệt: Với một người sống chuẩn mực như Ba, giờ giấc không chỉ là thói quen; nó là nếp. Gia đình chỉ có một cái đồng hồ để coi giờ. Bấy giờ có một cán bộ cách mạng nhìn thấy và muốn mua nó. Vậy mà Ba không chịu bán cho một cán bộ đó. Ba bị quy chụp làm cho sở Mỹ, bị gọi đi học tập và lao động ở Trại-Cải-huấn. Má rốt cuộc phải năn nỉ đưa cái đồng hồ ấy để Ba được về nhà.
Phan Rang và cuộc sống mới: Thấy ở quê không ổn, Ba Má bàn nhau, dắt cả nhà vô Phan Rang để sống. Nơi đó, có vợ chồng người cháu ruột đã sống từ trước nên có thể nương tựa nhau ở nơi đất khách quê người. Rồi lại thêm một nghịch cảnh nữa: Ba biết tiếng Anh lại bị nghi ngờ làm việc cho Mỹ. Ba không xin được việc, bị theo dõi. Mãi tới 1978 Má mới xin được việc cấp dưỡng. Ba thì làm những việc lặt vặt, rồi nhiều năm sau mới xin được một chân hậu cần ở trường Dân tộc nội trú, rồi trường giải thể, lại thất nghiệp.
Nhưng đời mở ra một khe nhỏ vào thời mở cửa: Ba dạy tiếng Anh tư thục. Ba tự học, tự soạn, tự dựng bài giảng. Và kỳ lạ là từ những khúc rẽ tưởng như làm người ta sẽ ngã gục, Ba lại đứng lên bằng đúng thứ Ba mang theo từ đầu: chữ nghĩa và nề nếp.
Sống chuẩn mực
Ba nghèo mà không hèn. Tôi nói câu này nghe có vẻ khẩu hiệu, nhưng sống với Ba mới hiểu nó cụ thể thế nào. Ba có thể làm những công việc dơ bẩn để mưu sinh mà không ngại. Sau 1975, Ba làm nông, làm ruộng. Rồi tới lúc Phan Rang rộ phong trào trồng nho, Ba và Má cũng làm nho, dùng phân bắc làm nguồn phân chính. Hình ảnh Ba Má mở hầm phân múc ra để làm phân bắc vẫn ám ảnh tôi. Một người từng cầm bút, từng học Văn khoa, vẫn có thể cúi xuống làm công việc dơ dáy, những thứ người ta né tránh, miễn sao nuôi được gia đình.
Nhưng Ba không chịu để mình nhếch nhác. Ba ít áo quần, nhưng quần áo phải ủi phẳng. Ba hay mặc chemise, cài manchette. Ra đường phải mang giầy hoặc sandales mà không được lê dép đi. Cái thời khốn khó của bao cấp, không có giầy, Ba làm cho chúng tôi mỗi đứa một đôi dép râu. Đó là những đôi 'sandales' bằng vỏ và ruột xe. Cái nếp đó nhiều khi làm người khác khó chịu, kể cả người trong nhà. Khách tới mà cầm thuốc lá hút trong nhà, Ba không tiếp chuyện. Mời khách ăn mà sợ trễ giờ hẹn, Ba đi lui đi tới thúc vợ, thúc con, như thể chậm một chút là có lỗi với người, với khách.
Ba nghiêm như vậy, nhưng Ba cũng không phải kẻ sĩ kiểu “chỉ biết bàn giấy”. Ba đi làm bốc vác, đạp chiếc xe đạp mini cọc cạch đi mười mấy cây số làm ruộng. Ba tự lượm lặt dụng cụ để tự sửa xe đạp, từ vá ruột đến may triên (tringle métallique: là cái vòng thép nằm ở mép vỏ xe để giữ chặt lốp vào niềng), sửa líp (libre) đến rắc căm (raccorder came: cân căm cho niềng xe). Ba chịu khó đến mức đôi khi làm tôi thấy mình thua xa Ba.
Có một nếp nhỏ của Ba, nếp mà bây giờ nghĩ lại mới thấy nó nói nhiều về Ba hơn cả những điều lớn lao: giữ mối dây người với người bằng chữ. Cứ mỗi độ Tết đến và Noël về, Ba vẫn trân trọng giữ những giá trị truyền thống và vẻ đẹp của ngôn từ. Tới gần ngày, Ba lại đi dạo phố, tìm kiếm những tấm thiệp ưng ý. Rồi với cây bút, cuốn sổ ghi địa chỉ, ít con tem để dành. Ba ngồi xuống bàn, và cái bàn lúc đó không còn là bàn ăn hay bàn làm việc nữa, mà giống như một chỗ Ba đang sắp đặt lại tình nghĩa. Ba viết chậm rãi, nắn nót, như thể mỗi chữ viết ra là một cách nhắc mình phải tôn trọng, tử tế với người khác. Ba viết thiệp gửi người thân, bạn bè: từ ông Helander ở Thụy Điển cho tới con cháu, đồng nghiệp, đồng niên trong giáo họ; có người cả năm không gặp, vậy mà Tết vẫn nhận được mấy dòng của Ba. Những tấm thiệp, những lời chúc được gửi đi chính là thay Ba thể hiện sự trân trọng, sự chân thành, thể hiện rằng Ba vẫn giữ lễ, nghĩa, vẫn “tôi còn nhớ bạn”, vẫn lưu giữ mối chân tình. Tôi nghĩ cái nếp ấy cũng là “chuẩn mực” theo kiểu của Ba: đời có thể thiếu thốn đủ thứ, nhưng không để phép lịch sự và tình nghĩa bị nghèo theo.
Giấc mơ phóng viên bị đánh mất
Ba mê máy ảnh, và có một giấc mơ rất gần với nghề báo. Ba không học báo chí, nhưng Ba mang cái tâm thế của người muốn ghi lại sự thật: muốn chụp, muốn viết, muốn làm chứng. Ba tự học chụp hình, sắm một chiếc Nikon, sắm cả ống téléobjectif. Với nhà tôi thời đó, đó là một thứ xa xỉ. Cái xa xỉ phải cân nhắc rất lâu, phải “bỏ cái này để dành cái kia” mới dám mua. Nhưng Ba vẫn mua.
Ba không mua để chơi ngông mà để ghi lại đời sống bằng hình ảnh, đúng, đủ và thật. Ba hay chở cả nhà tới chơi với chú Trọng ở Sư đoàn 6 Không quân (phi trường Cù Hanh, Pleiku), rồi ra Hồ Than thở những dịp Không quân biểu diễn, chỉ để chụp máy bay. Tôi còn nhớ cảm giác Ba nhìn thế giới qua ống kính. Như thể chỉ cần kịp bấm máy thì một khoảnh khắc sẽ không bị quên.
Tôi không biết trước 1975 Ba có bài báo nào được đăng hay không. Nhưng tôi thấy Ba chụp rất nhiều trong những chuyến đi cùng Hội Hồng Thập Tự. Và suốt cuộc di tản, Ba tranh thủ chụp hình. Ba chụp cả khi máy bay quần thảo trên đầu, đạn réo hai bên sườn. Tôi có cảm giác Ba muốn làm một phóng viên chiến trường thực thụ, một người chứng kiến, một người lưu lại. Nhiều lúc Má phải leo lên xe theo Ba chỉ để kéo Ba xuống, như kéo Ba khỏi cái ranh giới mỏng giữa “ghi lại sự thật” và “đánh cược sinh mạng”.
Tôi biết khi chạy loạn vào Sài Gòn, Ba đã viết một bài phóng sự về cuộc di tản, rồi đem tới các tòa soạn xin đăng. Lúc đó Sài Gòn đã loạn. Báo chí cũng loạn. Nhưng cái “loạn” không chỉ là đường phố hỗn độn, tin tức dồn dập. Nó còn là cái thế khó nói, khó in.
![]() |
| Ảnh Ba chụp Trực thăng đang thả cứu trợ cho nạn dân di tản |
Một phần vì chiến sự cuốn riết. Tòa soạn chưa kịp xoay sở thì giấy tờ, nhân sự, phương tiện đều bấn loạn. Một phần khác, người làm báo cũng sợ. Sợ một bài phóng sự quá thật, quá nhiều khói lửa, lại thêm hình ảnh nạn dân chạy loạn, sẽ làm rối lòng người trong thành đô. Trong lúc người ta đang cố giữ cho Sài Gòn khỏi hoảng, chữ nghĩa bỗng thành một thứ có thể gây chấn động. Có những điều ai cũng biết, nhưng không ai dám để nó nằm trên mặt giấy.
Ba đem bài đi gõ cửa, như đem một sự thật còn nóng đến nhờ người ta giữ giùm. Có nơi cũng nhận, còn hứa sẽ đăng. Ba về nhà, lòng vừa hồi hộp vừa vui. Ba chờ, cái chờ của người tin rằng rồi đây những gì mình đã thấy, đã trải qua, sẽ được gọi tên cho đàng hoàng, sẽ không trôi đi vô tăm tích.
Nhưng rồi mọi việc diễn ra nhanh quá. Không phải chỉ tòa soạn bận, người bận. Mà ngay chính tòa soạn cũng bị cuốn đi. Người ta chưa kịp đăng thì guồng máy đã rã. Báo quán, tòa soạn, cả một nếp sinh hoạt chữ nghĩa của miền Nam cũng sụp theo chính quyền. Trong một buổi, những lời hẹn trở thành vô nghĩa. Không phải ai cố tình nuốt lời, mà vì không còn chỗ để giữ lời.
Bài phóng sự của Ba, cùng những tấm hình chân thật của cuộc di tản theo Quân đoàn II, bị cuốn đi như vậy. Nó đi mất như những chiếc lá cuối thu gặp dòng nước đục, quay mấy vòng rồi mất hút.
Giấc mộng phóng viên của Ba tan theo đó. Không phải Ba bỏ. Cũng chẳng phải do ai nỡ lòng dập tắt. Nó trôi tuột khỏi tay một cách hiển nhiên. Một lời hứa chưa kịp thành, một trang giấy chưa kịp ráo mực, một ước mơ chưa hoàn thành. Mà Ba cũng không kịp buồn. Không có thì giờ để tiếc. Trong cơn đó, người ta chỉ lo sao cho còn sống, lo bảo vệ gia đình nguyên vẹn trong cơn loạn lạc. Có những mất mát không được phép có tang. Nó để đó, không kịp buồn, không kịp tiếc. Đến nhiều năm sau nhớ lại, tự nhiên thấy bồi hồi, tiếc nuối.
Ngoại ngữ: năng khiếu hay duyên nợ
Ba học Đại học Văn khoa Huế cái thời mà trong giảng đường, tiếng Pháp vẫn còn là ngoại ngữ chính. Sách vở, cách học, cách trích dẫn, cái nếp học thuật cũ vẫn còn đó. Từ giữa thập niên sáu mươi, Hoa Kỳ thay Pháp làm đồng minh và nguồn viện trợ chính cho Miền Nam Việt Nam. Do nhu cầu nhân lực khoa học–kỹ thuật cho chiến tranh và viện trợ, Anh ngữ bắt đầu được chú trọng và ngày càng phổ biến nhiều trong môi trường hành chánh, quân sự, cơ quan quốc tế, và dần lan sang giáo dục.
Khi thay đổi tên tuổi để trốn quân dịch, Ba chạy lên Pleiku và xin được dạy văn ở trường Minh Đức. Sau đó, Ba xin được vào Hội Hồng Thập Tự Pleiku. Công việc trong hội thường tiếp xúc với người ngoại quốc, buộc dùng tiếng Anh là chính. Ba tự học thêm để tăng khả năng giao tiếp. Nhờ chịu khó và có lẽ cả năng khiếu ngoại ngữ, Ba trở thành thông dịch chính rồi thành thư ký của Hội Hồng Thập Tự Pleiku.
Sau 1975, chỉ vì biết nói tiếng Anh mà lại thành cái cớ để người ta nghi Ba “làm cho Mỹ”. Ba không xin được việc. Một sự trớ trêu lạnh lùng: sở học, khả năng giao tiếp tốt ngoại ngữ không còn là bậc thang thăng tiến mà bỗng trở thành rào cản lớn của cuộc đời. Ba thất vọng, như muốn buông bỏ. Thậm chí có một thời Ba cấm các con học tiếng Anh vì Ba sợ các con rồi cũng như Ba, bị xã hội ruồng bỏ, bị nhìn bằng ánh mắt xa lạ chỉ vì biết ngôn ngữ của “phe bên kia”. Sợ một đời lương thiện mà vẫn không có chỗ đứng.
Đến thời mở cửa, tiếng Anh lại được chú trọng và dần thay thế tiếng Nga. Không để cơ hội tuột mất, Ba tự nghiên cứu và bắt đầu dạy tiếng Anh theo tài liệu Streamline, dù tiếng Anh không phải ngoại ngữ chính Ba học từ đầu. Ba dạy tiếng Anh khá nổi tiếng tại địa phương. Học trò của Ba không chỉ là những đứa trẻ cấp 1, 2 mà cả người lớn, cả những người đang làm việc trong cơ quan nhà nước. Người ta gọi Ba là “thầy Tâm” và gọi riết thành tên. Học trò của Ba rất nhiều. Điều làm tôi nể là Ba dạy không theo kiểu “làm cho xong”. Ba sưu tầm tranh ảnh, cắt dán, làm những tập minh họa để học sinh nhỏ dễ hiểu. Ba tự viết rất nhiều “giáo án” cho mình, dù không ai bắt buộc. Nhiều giáo viên ngoại ngữ chính quy viết giáo án như một nhiệm vụ. Còn Ba viết như nó phải có, viết để nắm bài cho chắc, để bài giảng có hồn, có chất, để vào lớp Ba biết mình sẽ đi tới đâu và dẫn dắt học trò tới đâu. Tôi thấy Ba coi mỗi tiết học như một cuộc hẹn nghiêm chỉnh với học trò và với chính mình.
Những năm 1990–1992, Ba tham dự workshop dành cho giáo viên tiếng Anh khu vực miền Nam ở Đà Lạt và là một học viên nổi bật. Ba mua rất nhiều sách tiếng Anh: từ tiểu tự điển, đến đại tự điển, từ sách chương trình đến sách nghiên cứu, rồi mua cả tranh ảnh, tạp chí để trau dồi, để làm nguồn tư liệu, dẫu rằng những thứ đó không rẻ. Với Ba, đó không phải sắm sửa. Đó là cách Ba dựng lại một đời sống đứng đắn cho nghề dạy học của mình, sau những năm tháng bị đẩy ra bên lề. Một số học trò của Ba cũng đã thành công tiếp nối nghiệp dạy tiếng Anh của Ba.
Ba giữ mãi niềm đam mê, sự tận tâm trong 'nghiệp dạy tiếng Anh' cho đến khi Alzheimer xuất hiện trong cuộc đời Ba, đến khi cả nhà phải ngăn Ba dừng lại.
Niềm đam mê sách
Có một thứ đã giúp Ba đứng vững trong nhiều đoạn đời chao đảo, tôi nghĩ đó là Sách. Sách với Ba không chỉ để đọc; đó là một nơi trú ngụ của tâm hồn, một chỗ dựa hiện hữu mà Ba có thể chạm tay vào để tạm buông bỏ hết những ưu tư, lo toan của cuộc sống. Ba mê sách như người ta mê một góc riêng bình yên để tìm về sau những mệt mỏi ngoài kia. Không phải kiểu mê để làm sang hay khoe chữ, Ba mê theo nghĩa nghiêm túc nhất: gặp sách là dừng lại, cầm lên, xem, nhớ, rồi tìm mọi cách để sở hữu cho bằng được.
Thời đầu mở cửa, sách hiếm mà tiền lại càng hiếm hơn. Có những cuốn Ba phải chắt bóp, gom góp mồ hôi suốt nhiều tháng hay cả năm trời mới mua được. "Thư viện" của Ba thực ra chỉ là những kệ gỗ được Ba tự tay đóng từ những tấm ván thanh lý của nhà trường, nhưng bên trong đó là cả một thế giới đồ sộ được bày biện vô cùng trang trọng.
Nơi đó, Ba xếp đặt hài hòa giữa những tư tưởng thâm trầm của Nho giáo, Triết học với vẻ đẹp lãng mạn của Văn học. Có những ngăn dành riêng cho điển tích, thiên văn, địa lý, và cả những cuốn sách về rong tảo - những lĩnh vực tưởng chừng xa lạ nhưng lại đầy sức hút. Ba đặc biệt tự hào về bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam và cuốn Đại tự điển Anh - Việt dày cộp, cùng bộ sách dạy tiếng Anh Streamline đầy đủ nhất thời bấy giờ.
Góc giải trí của anh em tôi là những chồng truyện kiếm hiệp, dã sử và truyện tranh được xếp ngay ngắn cạnh những tờ Tạp chí Liên Xô – thứ tạp chí mà ngày ấy chỉ nhìn lớp giấy in màu bóng bẩy thôi cũng đủ thấy quý giá vô ngần. Nhưng có lẽ, linh thiêng nhất vẫn là nhóm sách tôn giáo. Đó là những cuốn Kinh Thánh, và cả những cuốn bài giảng phúc âm mỗi Chúa nhật vốn thường dành cho các linh mục, tu sĩ. Khác với những tập sách cũ kỹ từ thời trước, những cuốn sách này về sau mới có nên còn khá mới, được Ba bao bọc bằng giấy bóng kính phẳng phiu, trang trọng như một báu vật.
Kệ sách ấy không chỉ là nơi Ba ẩn mình nghiên cứu, mà còn là một "cánh cửa" mở toang thế giới cho anh em tôi. Từ sự tò mò trẻ thơ khi lật giở những trang tạp chí đầy hình ảnh, chúng tôi bị lây cái đam mê đọc sách của Ba lúc nào không hay. Ba đã dùng chính sự chắt chiu của mình để dựng nên một kho tàng tri thức trong nhà, giúp anh em tôi có chỗ mà học hỏi, mở mang đầu óc, dạy chúng tôi cách mở rộng tầm nhìn bằng chính những giá trị được đúc kết trong tủ sách của Ba.
Đa số là sách cũ, nhưng chúng đều được Ba "chăm sóc" bằng một sự cẩn trọng. Ba bao cẩn thận từng cuốn một, bấm ghim lại bốn góc. Thuở thiếu thốn, Ba chỉ bọc bằng những mảnh nhựa đùng đục cóp nhặt được. Về sau, khi có giấy bóng kính, những cuốn sách mới thực sự được "hồi sinh", bóng bẩy và rõ ràng từng tựa sách như một niềm kiêu hãnh. Đó không chỉ là đam mê, mà là cách Ba nâng niu cái thế giới riêng của mình. Nhìn những dãy sách được xếp ngay ngắn trên kệ, tôi hiểu đó là lúc Ba thực sự tìm thấy sự tĩnh lặng, gác lại mọi nhọc nhằn của đời thường để sống trọn vẹn với niềm vui tri thức.
Sách đối với Ba có trật tự và có "luật". Chỉ cần ai đụng vào làm xộc xệch, Ba biết ngay. Anh em tôi ngày nhỏ từng chịu không ít lằn roi, không phải vì hư thân mất nết, mà chỉ vì lỡ làm lệch một chồng sách hay đặt sai vị trí một cuốn từ điển. Những lần bị Ba "xạc" nặng hay cấm cửa không cho đụng vào kệ sách đã dạy cho chúng tôi một bài học sớm sủa về sự tôn trọng và nề nếp.
Nhờ sự "khó tính" ấy, mà trong căn nhà không rộng, lúc nào cũng tồn tại một góc yên. Đi ngang qua kệ sách của Ba, tôi luôn cảm thấy mình đang bước ngang qua một thứ gì đó rất riêng, rất thiêng liêng: Ba giữ sách như giữ lễ nghĩa ở đời. Nhiều người nhìn vào sẽ thấy Ba khó, nhưng sống với Ba lâu mới hiểu: đó là cách Ba giữ một cái trật tự nhỏ trong nhà, khi ngoài kia mọi thứ đã đủ rối, đủ bấp bênh.
Con người dí dỏm
Trái ngược với vẻ nghiêm khắt bên kệ sách, Ba lại sở hữu một "bụng" đầy những chuyện hài hước và tài tự trào duyên dáng. Ba trêu đùa theo kiểu của một trí thức: bịa như thật, tỉnh queo, khiến người ta tin sái cổ rồi mới vỡ lẽ ra trong tiếng cười sảng khoái.
Tôi nhớ mãi hồi mình mới bước chân vào trường Y năm 1990, Ba gửi thư báo tin... Má sắp có em bé. Lúc đó Má đã 47 tuổi và đã nghỉ sinh 15 năm rồi. Vậy mà một đứa sinh viên Y khoa như tôi lại tin không chút nghi ngờ, còn sốt sắng viết thư về tư vấn sản khoa, dặn dò chăm sóc mẹ bầu như một bác sĩ thực thụ. Sau này nghĩ lại thấy mình ngu ngơ thì ít mà thấy nể cái tài kể chuyện của Ba thì nhiều. Ba nói bằng giọng thật quá, cái sự bịa đặt nó lồng vào thực tế mượt mà đến mức lòng tin của tôi dành cho Ba trở thành một sự lầm lẫn nực cười..
Bài thơ không chỉ là lời chúc vui vẻ về gia đình hạnh phúc, con cái đề huề mà còn là cái nháy mắt tinh quái về sự gắn kết bền bỉ của hai bác chủ nhà dù tuổi đã cao. Cái tài kể chuyện của Ba còn "tài" tới mức, khi anh tôi đi nghĩa vụ ở Campuchia, Ba ngồi nhà mà kể chuyện sang Nam Vang thăm con chi tiết đến từng ngõ ngách, khiến hàng xóm láng giềng, thậm chí đồng nghiệp của Ba ai cũng tưởng thật.
Cái tính dí dỏm ấy thấm sang cả tôi. Năm 1990, chính nhờ những lời góp ý gợi mở của Ba mà bức tranh biếm họa tôi vẽ trong ngày hội xuân của trường đã đạt giải. Đó không chỉ là một giải thưởng, mà là khoảnh khắc tôi nhận ra mình đã thừa hưởng từ Ba một cách nhìn đời vui vẻ, nhẹ nhõm hơn.
Nhưng, cuộc đời không phải lúc nào cũng là tiếng cười dễ dãi. Có những tiếng cười được đánh đổi bằng nước mắt và cả sự mất tự do. Mùa Noel năm 1981, Ba tự biên, tự diễn một vở hài kịch, thậm chí chẳng ngại giả gái để làm diễn viên, cốt chỉ để đem lại niềm vui trong ngày giáng sinh cho bà con giáo họ. Nhưng những phút vui vẻ ngắn ngủi đó lại dẫn đến một chương buồn: Ba bị cáo buộc tổ chức văn nghệ không xin phép và phải bị biệt giam hơn một tháng trời.
Suốt thời gian đó, không khí gia đình chùng xuống, tưởng như Ba sẽ không kịp về ăn Tết Nhâm Tuất. Sự cố ấy là một lát cắt nghiệt ngã của thời cuộc, nhưng nó lại càng làm nổi bật chân dung của Ba: Một văn sĩ ẩn mình giữa đời. Dù là viết thơ, viết vọng cổ, hay giả gái diễn kịch, tất cả đều chung một gốc rễ – đó là khao khát được dâng tặng niềm vui và tri thức cho cuộc đời, bất chấp những va đập của nhân tình thế thái.
Đức tin được dẫn lối
Ba lấy Má, một cô gái Công giáo sùng đạo. Ba không thuộc kiểu "Con quỳ lạy Chúa Ba ngôi, cho con được vợ, con thôi nhà thờ". Nhưng hồi đầu, Ba giữ đạo cũng khá lớt phớt. Ở Pleiku những năm tháng ấy, mỗi sáng Chúa Nhật, Ba vẫn đều đặn chở cả nhà đi lễ. Nhưng hầu như khi xe tới nơi, nhà thờ đã bắt đầu đọc kinh Lạy Cha – phần gần cuối của thánh lễ. Đúng là việc khua một đám con nít như chúng tôi dậy cho kịp đi lễ sáng không bao giờ là chuyện dễ dàng, nhưng tôi luôn có cảm giác Ba đi lễ chủ yếu để Má vui, để rồi sau đó cả nhà được thảnh thơi đi chơi cùng nhau.
Nhưng biến cố năm 1975 đã làm thay đổi hoàn toàn tâm thế của Ba. Trên con đường di tản đầy máu và nước mắt, giữa hai lằn đạn vô tình, chúng tôi đã chứng kiến những gia đình hôm nay còn đi bên cạnh, hôm sau đã nằm lại vì pháo kích. Trong cái làn ranh mỏng manh giữa sinh và tử, khi mọi nỗ lực của con người trở nên bất lực, người ta chỉ còn biết phó thác vào ơn trên. Ba bắt đầu cầu nguyện nhiều hơn. Khi cả nhà vượt qua được cơn bão táp ấy mà vẫn vẹn nguyên, đức tin của Ba không còn là hình thức nữa. Nó đã trở nên vững chắc và kiên định qua những thử thách sống còn.
Đức tin ấy hiện lên đau đớn và chân thực nhất trong hai bài hồi ký Ba viết về Maria và Anna – hai người con đã rời xa vòng tay Ba Má. Ở đó, Ba không viết như một văn sĩ tỉ mỉ gọt giũa câu từ. Ba viết bằng tâm thế của một người cha đang bấu víu vào Thiên Chúa và Đức Mẹ khi đứng trước hơi thở tàn của con mình. Có những dòng đọc lên nghe rất thật, như một tiếng thở dài hơn là câu chữ. Trong bài hồi ký về Maria, chỉ một chi tiết ngắn cũng đủ cho thấy nỗi lòng của Ba Má lúc ấy: Ba Má “cầu xin Chúa-Mẹ không ngớt” khi thấy con yếu dần.
Đức tin ấy cũng thấm đẫm vào thơ. Thơ Tết của Ba dù vui hay “ngộ”, rốt cuộc vẫn trở về với lòng cảm tạ ơn trên. Với Ba, hạnh phúc hay tương lai của con cái đều là Thiên ân:
Hạnh phúc bình an Cha dẫn lối,
Tương lai học vấn Mẹ đưa đường.
Về sau, Ba có một thói quen thầm lặng: thường tự lái xe xuống Đài Đức Mẹ ở Tấn Tài để cầu nguyện riêng. Không phô trương, không cần ai hay biết. Ba chỉ đứng đó, thầm thì với Mẹ Maria rồi lại lặng lẽ ra về. Có lẽ những giờ phút tĩnh lặng ấy là lúc Ba như đứa con nhỏ chạy về tỉ tê với Mẹ để được ủi an, nâng đỡ. Ba trút bỏ cái vai trò làm cha, làm chồng, làm thầy giáo để được làm một đứa con trong lòng Mẹ. Có lẽ chính nhờ những lần "về nhà" thầm lặng ấy mà Ba có đủ sức đi tiếp qua những đoạn đời ngặt nghèo – những đoạn mà chữ nghĩa, sách vở hay sức người cũng dễ bị rụng rơi, gục ngã.
Và rồi, khi bệnh tật kéo Ba ra khỏi trần gian, tôi luôn tin rằng Ba đã nhận được ơn "chết lành". Ba ra đi trong sự thanh thản lạ kỳ, như một lữ khách đi xa đã thấm mệt và cuối cùng cũng tìm thấy lối về nhà. Chính đức tin đã dẫn lối Ba đi qua những thăng trầm nơi dương thế, để đến phút cuối cùng, Ba được nằm lại trong sự bình an tuyệt đối.
Nhẹ nhàng rời cõi tạm
Khi bước qua tuổi 75, Ba tự bảo mình đã già, dù ngoại hình trông vẫn còn phong độ lắm. Nhưng lạ thay, từ cái khoảnh khắc Ba tự “nhận già” ấy, sức lực của Ba xuống dốc thấy rõ. Như thể chỉ cần Ba chấp nhận cái chữ “già”, đời liền trùm lên Ba một tấm chăn nặng, đắp dần, đắp dần lên từ bàn chân, chầm chậm đến mức mình thấy nó đang tới mà chẳng thể nào phản ứng hay đẩy ra được.
Ba mắc Alzheimer, biểu hiện bằng việc thỉnh thoảng nói chuyện không đầu không đuôi, khiến tôi đôi khi vì bối rối mà thành ra lảng tránh hàn huyên với Ba. Lúc phát hiện ra, tôi quyết định cùng Má không để Ba dạy học nữa. Nó vừa nguy hiểm, vừa buồn. Ba không còn là Ba của thời “thầy Tâm” soạn giáo án dày cộp, sưu tầm tranh ảnh, viết thiệp Tết và Noël. Ba bắt đầu rơi vào một thế giới khác, nơi câu chuyện không còn tuyến tính, nơi ký ức chảy ngược và mọi thứ đều hỗn độn.
Những năm cuối, bệnh nặng dần, tôi ngày càng ít nói chuyện được với Ba. Không phải vì hết thương, mà vì càng nói càng bất lực. Câu nói của Ba hiếm khi nào trọn vẹn, cứ đi được nửa chừng là "rơi" xuống, ý lạc mất đâu đó giữa chừng. Có những lúc Ba nhìn tôi, ánh mắt như đang mải miết tìm một từ ngữ để bắc cầu ý tứ, nhưng chữ nghĩa không tới. Tôi ngồi nghe, rồi nhận ra mình không hiểu Ba nữa. Đôi khi tôi trả lời Ba một cách bâng quơ vì cho rằng Ba cũng không hiểu mình nói gì. Có lẽ tôi đã không cảm hết sự bực bội của Ba khi không thể kết nối được với gia đình nữa. Cảm giác đó giống như mình đứng ở bến tàu, nhìn con tàu chở người thân cứ chầm chậm tách bến. Mình đứng trên bờ, thấy rõ cái bóng quen thuộc ấy đang lùi dần, lùi dần vào phía mịt mờ sương nước, nhưng không cách nào chạm tới, không cách nào gọi cho đúng tên để người ta quay đầu lại. Đường về giữa Ba và gia đình đã bị đời lặng lẽ rút mất.
Cùng lúc đó, căn bệnh Parkinson vốn âm thầm đeo bám bấy lâu bắt đầu bộc lộ sự nghiệt ngã. Những cơn run, những lần cứng cơ và sự chậm chạp cứ thế tăng dần khiến Ba thường xuyên té ngã, rồi phải thu mình lại trên chiếc xe lăn, và cuối cùng là nằm liệt giường. Mọi sinh hoạt đều cậy nhờ vào tay Má. Nhìn Má chăm Ba, lòng tôi se lại. Tình nghĩa vợ chồng ở tuổi bóng xế đôi khi chính là sống có nghĩa với nhau, không còn là những câu hoa mỹ, mà là đôi tay xưa, sau hơn 60 năm, vẫn chịu ở lại, lau chùi, đút từng muỗng cháo, canh từng cơn ho. Má như đang canh chừng một ngọn đèn sắp cạn dầu, dù biết sẽ tắt nhưng vẫn muốn giữ cho nó sáng thêm chút nữa.

Trong những năm đó, Ba hay nhớ con cái. Gặp đứa này hỏi đứa kia. Ba hỏi anh Kha nhiều nhất. Vì Ba hay hỏi nên anh em tôi cố về thăm thường xuyên. Tôi đi làm ngang qua nhà, thành ra tuần ghé bốn, năm lần, và tuần nào cũng chở các con lên thăm ôn.. Nhiều lần tôi không biết nói gì với Ba nữa. Tôi chỉ ngồi đó, nhìn Ba, nhìn Má. Và cái “ngồi đó” tự nó đã thành một câu: con vẫn về, con vẫn ở đây, dù con không biết phải nói gì để Ba hiểu.
Ba ra đi rất thanh thản, cái chết lành mà người Công giáo chúng tôi hay gọi. Chúa gọi Ba về vào buổi sáng ngày 26/01/2024, nhằm ngày 16 tháng Chạp năm Quý Mão. Dạo đó người ta đang làm đường, con đường trước nhà bị cày xới, bụi mù mịt. Rồi đúng lúc đường vừa trải nhựa xong, phẳng phiu thì Ba đi. Tôi không biết gọi đó là sự trùng hợp hay một sắp đặt dịu dàng của định mệnh. Chỉ thấy mọi thứ như khép lại đúng lúc: cả nhà lo xong tang lễ, rồi vẫn kịp bước qua Tết. Cái Tết đầu tiên không còn Ba. Nhưng lạ là, sự ra đi của Ba không làm gia đình xáo trộn. Có lẽ vì Ba đã sống cả đời bằng nề nếp, nên đến lúc đi, sau một cuộc lữ hành nhiều đoạn gập ghềnh, Ba đi trong một khoảnh khắc yên bình, ra đi trong nề nếp: nhẹ, gọn, như một người đã làm tròn bổn phận mình, để lại cho con cái một mái nhà vẫn đứng vững và một khoảng trống im lặng. Một đời lận đận, bụi bặm, bị xới tung như con đường trước ngõ, để rồi tới đoạn cuối, bỗng phẳng lại một chút, và Ba chọn đi.
Ảnh hưởng của Ba
Tôi viết đến đây mới thấy, ảnh hưởng của Ba lên tôi không nằm ở những bài học Ba ngồi giảng. Ba ít khi “dạy” bằng lời. Ba dạy bằng nếp. Nếp sống của Ba đi vào nhà như một thứ quy định tự nhiên: đã vào nhà thì phải ngay ngắn; đã ra đường thì phải đàng hoàng; đã sống thì đừng sống qua loa.
Và nếp đó không chỉ “nhiễm” vào một mình tôi. Nó “nhiễm” vào cả anh em tôi theo những cách khác nhau. Không ai trong năm anh em có ngoại hình giống Ba rõ rệt. Chỉ có chú Tài là cao, mấy anh em còn lại thì có chiều cao khiêm tốn hơn Ba. Gương mặt cũng chẳng ai giống Ba. Nhưng cái giống của con cái với cha mẹ không phải chỉ bên ngoài mà còn nằm ở chỗ khác: mỗi người nhìn lại sẽ tự thấy mình giống Ba ở một vài điểm, như thể Ba chia mình ra thành nhiều mảnh rồi để lại rải rác trong từng đứa.
Anh Bang làm giáo viên Toán – Lý, chị Tuyến làm giáo viên Văn; anh và chị thừa hưởng từ Ba một điểm rất riêng: học và dạy tiếng Anh, môn học không phải chuyên ngành của mình. Đặc biệt với chị Tuyến, tôi nghĩ có thể gọi là truyền nhân của Ba. Khi còn học sinh, chị đã có một thời gian dài được Ba kèm riêng cách viết lách, cách dựng bài, cách giữ chữ. Về sau chị theo ngành giáo. Chị dạy Văn có uy tín ở trường, học trò theo học khá đông, ngay cả lúc chị đã về hưu. Nhìn chị, tôi thấy cái “Văn khoa” của Ba không mất; nó chỉ là đang được nối dài qua một cuộc đời khác.
Chú Tài thì lại giống Ba ở một điều mà trước kia tôi không để ý: sự tận tụy thầm lặng. Những năm Ba “đã già”, chú Tài thường ở cạnh Ba. Dù tôi làm bác sĩ, người chăm sức khỏe Ba nhiều nhất lại là chú Tài. Cái chăm đó không cần nói nhiều. Nó là thứ hiện diện hàng ngày, chịu khó, và không bỏ cuộc. Một thứ “đạo hiếu” rất lặng, rất đúng kiểu người nhà.
Còn tôi, tôi “nhiễm” Ba ở lối sống và ở sách. Tôi mê sách. Tôi bọc sách kỹ. Tôi khó chịu khi thấy sách bị quăng góc. Tủ sách gia đình về sau chủ yếu là của Ba và tôi sưu tầm. Tiếc là tôi không có điều kiện để có một tủ sách đúng nghĩa, để thừa hưởng trọn vẹn “thư viện” của Ba như một căn phòng riêng. Nhưng cái thói quen coi sách là một thứ phải nâng niu, tôi vẫn giữ. Tôi cũng tự viết sách và tự in sách như Ba đã làm, nhưng là sách ngành y – một kiểu “cầm bút” khác, khô hơn, ít thơ hơn, nhưng vẫn là cầm bút.
| Gia đình tôi qua ống kính của Ba ngày ấy. Bây giờ, Ba vẫn đang nhìn chúng tôi, nhưng không còn qua khung ngắm mà từ một nơi rất bình an. |
Và tôi vẫn giữ trang phục theo lời Ba dạy: áo chemise cài manchette, mặc áo lót trong, ra đường thì bỏ áo vào quần, mang giầy hay sandales. Tôi biết có người sẽ thấy đó là hình thức, có người cho rằng tôi cổ hủ hoặc trông tôi già đi. Nhưng với tôi, đó không chỉ là một thói quen được Ba gầy dựng. Đó còn là một dấu chỉ: tôi vẫn còn ở trong cái nếp Ba.
Có một chi tiết nhỏ nhưng làm tôi thấy rõ nhất cái ảnh hưởng ấy: mỗi lần anh em tụ họp ở nhà Ba Má, kể cả lúc Ba đã mất, mọi người đều không hút thuốc. Không ai bảo ai. Chỉ là tự nhiên như vậy. Có những thứ Ba nói một lần là đủ. Có những thứ Ba không nói, nhưng nếp nhà nói hộ.
Di sản
Di sản của Ba không phải thứ đặt lên bàn, một thứ có thể nhìn thấy, có thể lượng giá. Di sản của Ba càng không phải là nhà cửa, là tiền bạc, là những tác phẩm đáng giá để lại. Nó là thứ phải sống, phải ngẫm, phải trải nghiệm mới nhận ra.Di sản rõ nhất của Ba chính là con cái, không phải theo nghĩa “truyền sinh” mà theo nghĩa Ba Má đã định hướng và dựng nếp cho chúng tôi. Năm anh chị em chúng tôi, hai người làm giáo viên, một người học sư phạm rồi làm hành chính, tôi thì ngành y mà rốt cuộc cũng có mấy năm đứng lớp. Dâu rể cũng có ba người là giáo viên. Anh Bang và chị Tuyến còn là giáo lý viên chủ chốt trong giáo xứ. Thành ra sinh hoạt, nề nếp trong gia đình tự nhiên mang dáng dấp của tầng lớp trí thức: coi trọng chữ nghĩa, coi trọng giờ giấc, coi trọng cách cư xử, coi trọng việc “ở cho ra ở”..
Ba để lại một “tủ sách” không chỉ bằng giấy, mà bằng thói quen đọc và tự học. Ba để lại cho tôi cái cảm giác rằng ngoại ngữ không phải để làm sang, mà là một cây cầu. Ba để lại một cách dạy học nghiêm túc: tự soạn bài, tự làm minh họa, tự viết giáo án như viết một bài văn, không phải vì ai bắt, mà vì Ba không chịu làm qua loa.
Ba cũng để lại một giấc mơ phóng viên bị đánh mất. Nhưng cái tinh thần muốn ghi lại sự thật thì không mất. Nó nằm trong những bức ảnh Ba chụp, trong những dòng Ba từng viết, và cả trong cái cách tôi bây giờ vẫn muốn viết cho ra hồn, dù có lúc tôi bận và phân tâm đến mức sợ mình không còn viết được như trước.
Nhìn lại kệ sách của Ba, nhìn đôi tay xưa của Má, và cách anh em tôi đang sống, chúng tôi thấy rằng di sản của Ba chưa bao giờ là những thứ tĩnh lặng. Nó vẫn đang sống, trong cái khuy áo manchette cài ngay ngắn mỗi khi ra đường, trong những cuốn sách được bao bọc phẳng phiu, và trong đức tin thầm lặng dẫn lối chúng tôi qua những thăng trầm.
Và cuối cùng, Ba để lại một điều rất khó gọi tên: một ngọn lửa nhỏ của chữ nghĩa và nề nếp trong gia đình. Ngọn lửa đó không rực rỡ. Nhiều khi nó chỉ đủ ấm. Nhưng có lẽ vậy là đủ. Vì nhờ nó, con cái Ba lớn lên không chỉ để “kiếm sống”, mà còn để giữ một kiểu sống. Nhờ nó, tôi vẫn còn muốn viết về Ba, không phải để tưởng nhớ suông, mà để nhìn kỹ lại: hóa ra có những di sản nằm ngay trong chính chúng tôi, nếu không ngẫm thì tưởng như “chẳng có gì”.
Có lẽ tôi nên viết sớm hơn, lúc Ba còn đọc được, còn hiểu được. Nhưng, là con trai, tôi không quen nói lời yêu thương hay biết ơn. Tôi cứ để vậy. Đến khi Ba không còn đọc được nữa, tôi mới viết. Và tôi vẫn viết, vì tôi sợ nếu không nói ra, rồi sẽ có ngày nhìn lại, tôi phải day dứt vì sự muộn màng này.
01/2026











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét