Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Ba tôi: cầm sách bút, giữ thanh bần

Mãn tang Ba, một đời người với nhiều thăng trầm, tôi không định kể lại cuộc đời Ba theo dòng thời gian. Tôi muốn giữ Ba bằng những mảng ký ức mà càng lớn càng thấy rõ: một người cầm bút thật thụ; một phong cách sống chuẩn mực đến khó chịu; một giấc mơ bị đánh mất; một năng khiếu ngoại ngữ tự mày mò mà thành; một kiểu dí dỏm làm cả nhà cười; và cuối cùng là những năm tháng Ba đi dần vào một nơi khác, nơi câu nói không còn trọn vẹn. 

Ba tôi tên Nguyễn Văn Lang, sinh năm 1941. Ba sinh ra cuối thời Pháp thuộc trong một gia đình tiểu thương. Anh chị em của Ba hầu như đều làm nghề tài xế xe khách hoặc buôn bán, chỉ có Ba duy nhất theo nghiệp học. Trong suốt cuộc đời, Ba tôi đã trải qua nhiều khó khăn và gian truân, từ việc làm thầy, làm nhà hoạt động xã hội, trở thành nông dân, đến việc tham gia hoạt động văn nghệ địa phương rồi lại trở về với nghề giáo. Tính dí dỏm và hay đùa cợt của ông đã làm cho gia đình luôn có những tiếng cười và niềm vui giữa cuộc sống khốn khó.

Nghiệp văn chương

Tôi nghĩ Ba là người cầm bút thật, theo cái nghĩa rất giản dị: Ba viết không phải để ai khen, càng không phải để thành thi sĩ nổi danh. Ba viết vì không viết thì bứt rứt. Viết, với Ba, như một bản năng đã ngấm vào huyết mạch. Có lúc ngôn từ tuôn ra tự nhiên như hơi thở. Dẫu đôi lúc, cuộc đời dồn Ba vào chỗ phải lo miếng ăn, chữ vẫn nằm ẩn đâu đó trong người, như một thứ gỡ ra không được.

Nhưng nói cho đúng, cái nghiệp ấy của Ba không phải tự nhiên mà có. Nó có một thời khởi đầu rất rõ, thời Ba còn là sinh viên, còn là một chàng thanh niên tin rằng mình có thể sống bằng chữ, và có thể trở thành “thi sĩ” đúng nghĩa. Ba học Văn khoa Huế. Ba từng kể hồi đó Ba học hai ngoại ngữ, tiếng Pháp tiếng Anh, trong đó tiếng Pháp là ngoại ngữ chính. Cái nền đó theo Ba suốt đời: thói quen đọc, thói quen ghi, và cái thói quen hơi “khó chịu” của người quen chữ nghĩa, nghe một điều gì cũng muốn thử lại, đối chiếu lại, không vội bằng lòng.

Ba ở cảng Đà Nẵng

Tôi vẫn hình dung những năm đó Ba mê thơ như bướm mê vườn hoa đẹp. Ba thần tượng thi sĩ Hàn Mặc Tử. Có lẽ vì vậy mà Ba chọn bút danh Hàn Mạc Lang—một cái tên nghe đã thấy cô đơn, thấy lãng tử. Nhưng thơ Ba không đi theo Hàn Mặc Tử. Những vần thơ còn lưu lại có thể giúp tôi nhận ra điều đó. Nếu Hàn Mặc Tử đi vào những miền mộng tưởng dữ dội và cuồng nhiệt—một thế giới trăng, máu, linh hồn, những cơn bốc lên như thị kiến—thì thơ Ba lại mộc mạc, đơn sơ và gần gũi. Nó không phải thứ thơ đưa người đọc vào thế giới huyền ảo. Thơ Ba rất hiện thực, là thứ thơ có thể sờ, có thể nắm. Thơ Ba ở lại với căn nhà, với người con gái Ba thương, với đời sống gia đình, với những giấc mơ rất đỗi bình thường: 

Anh mơ rằng ngày sau
Em với anh chồng vợ,
Ấp nhau bằng hơi thở,
Không bao giờ xa nhau.

“Mai” và “Giấc mơ của anh” thật ra là thơ tình Ba nhờ bạn bè gửi để… tán Má. Cái thời mà thanh niên đương thời không còn chờ ba mẹ đặt đâu để ngồi đấy, họ gửi gấm tình cảm vào trang giấy trắng để gửi cho người mình thương hay để giữ kín cho riêng mình. Khi Má im lặng lâu quá, Ba thẩn thờ buồn. Ba lại viết “Xuân Sầu” rồi nhờ một người bạn chuyển tiếp. Một người bạn đặc biệt. Đó là anh Vĩnh, cháu ruột của Má mà lại cùng tuổi với Ba. Nhờ chính người bưu tá nhiệt tình đó mà sau này chúng tôi mới lần ra được thơ của Ba để xin chép lại. Chứ Ba và Má đều không nhớ. Ba không mang theo được tập thơ của mình, mà ký ức về thơ cũng rơi mất theo những lần đời bứng gốc.

Điều tôi tiếc nhất vẫn là năm 1974. Khi công việc đã tương đối ổn định, Ba và Má đã tự in một tuyển tập thơ của Ba để tặng bạn bè. Tự in thời đó không phải chuyện chơi. Nó là một việc làm nghiêm túc của người cầm bút: gom chữ của mình lại thành một quyển, trao cho người khác như trao một phần đời. Vậy mà 1975 loạn lạc, rời Pleiku, Ba không đem theo được quyển nào. Mất sạch. Và buồn hơn nữa: Ba cũng không còn nhớ bài nào của chính mình. Một người viết nhiều mà về sau lại phải nhờ người khác giữ hộ chữ của mình, nghe tưởng chừng vô lý, nhưng đời có những đoạn nó nghiệt ngã như vậy.

Ba không chỉ làm thơ. Những năm 1977-1978, Ba với chú Hùng còn viết kịch bản hát vọng cổ cho đoàn văn nghệ địa phương. Thỉnh thoảng Ba dạy tôi ca thử. Tôi còn nhớ mơ hồ một câu “em ơi, ta hãy chung tay xây dựng quê hương, dù gian nguy khó khăn cũng coi thường". Có thể Ba đã viết nhiều bài tuồng ca cổ. Nhưng những thứ Ba viết lại không ở lại với Ba, cũng không được lưu lại nên có khi ngay cả anh chị em tôi không phải ai cũng biết.


Về sau, tôi hay nói với Ba về thơ Đường. Tôi thích cái khuôn phép, thích cái luật bằng trắc, thích cái cảm giác chỉn chu của một bài thơ bị “gò” mà vẫn bay. Tôi không chắc Ba đổi cách làm thơ hoàn toàn vì tôi, nhưng tôi thấy rõ Ba có một giai đoạn thơ “Tết” viết chặt hơn, có ý tứ hơn, có vần điệu ngay ngắn hơn. Những bài chúc xuân của Ba, nhất là những bài có câu tứ và niêm luật phảng phất, vừa cho thấy Ba vẫn ham chữ, vừa cho thấy Ba biết tự làm mới mình.

Học hành thi cử con thành đạt;
Tính toán làm ăn vợ thỏa thuê;
Cửa nhà, cơm áo thêm nhiều mặt,
Tiền bạc, tư trang khá mọi bề.

Có một thứ chữ nghĩa của Ba mà không nằm trên giấy. Nó nằm trong giọng kể, những đêm trước khi ngủ. Hồi đó, điện hay cúp dù nhà tôi ở dưới chân thủy điện Đa Nhim. Mùa hè Phan Rang nóng, ít mưa, thiếu nước. Trong thôn Mỹ Đức chúng tôi, cả làng chỉ có một cái giếng nước lợ. Nhà nào cũng có cái bể nước xây nổi để chứa nước mưa, thường gọi là bể cạn. Nhà tôi còn có tới hai cái, một cái nhỏ, một cái lớn. Vào những đêm hè, cả nhà lại cùng nằm trên cái bể cạn đó, nhìn lên trời, nghe côn trùng kêu và chờ Ba bắt đầu câu chuyện. Ba kể theo kiểu truyện kiếm hiệp. Nhưng không phải kiếm hiệp trong sách. Kiếm hiệp của Ba có người thật trong nhà. Ba là một đại hiệp. Kẻ thù của Ba thì lúc ẩn lúc hiện. Đám con nít chúng tôi vừa là nhân vật vừa là khán giả, bị kéo tuột vào một thế giới mà Ba dựng lên. Nó hào hứng, hấp dẫn vì chúng tôi là những nhân vật trong câu chuyện, được Ba kể bằng một nhịp chậm rãi, bằng cái cách Ba biết ngừng đúng lúc để người nghe nóng ruột.

Tôi nhớ rõ cái cảm giác háo hức đó: mong tới giờ đi ngủ không phải để ngủ, mà để được nghe tiếp. Mỗi lần Ba dừng lại, tôi thấy như bị hụt hẫng. Mà lạ là, đến bây giờ chẳng ai nhớ Ba kể gì, cốt chuyện ra sao. Cái trí nhớ của chúng tôi giữ lại không phải là tình tiết, mà là vài mảnh sáng: Má dắt díu mấy đứa trốn trốn chạy chạy, lẩn qua những chỗ tối, né người truy đuổi, như thể cả nhà đang sống trong một cuộc đào thoát dài. Đến tối hôm sau, Ba hỏi: hôm trước Ba kể tới đâu rồi? Chúng tôi nhìn nhau, rồi trả lời bằng đúng một câu mà ai cũng thuộc: “tới chỗ bốn mẹ con xuống thuyền.” Câu đó lập đi lập lại hoài, như một cái mốc. Có khi tôi nghĩ, câu ấy nằm lại trong chúng tôi không phải vì nó quan trọng với cốt truyện, mà vì nó giống đời sống thật của gia đình tôi hơn bất cứ đoạn kiếm hiệp nào: Má dắt con đi, lầm lũi mà bền bỉ; còn Ba, dù làm đại hiệp trong truyện, rốt cuộc vẫn là người dùng chữ nghĩa để che chở cho cả nhà qua một đêm nóng không đèn và cuộc sống nhiều lúc thiếu thốn và mờ mịt như lần lũi đi giữa màn đêm.


Có lẽ đó mới là điều làm tôi tin Ba là một văn sĩ thật thụ. Không phải vì Ba có “tác phẩm để đời”. Mà vì Ba từng sống một thời như một thi sĩ, rồi bị đời bắt phải bỏ lại thơ của mình, nhưng rốt cuộc vẫn không bỏ được chữ. Chữ nghĩa của Ba chuyển hình: lúc là thơ tình gửi đường vòng cho Má, lúc là thơ sầu vì không được hồi âm, lúc là kịch bản vọng cổ cho đoàn văn nghệ, lúc là chuyện kể đêm cho con, lúc là thơ chúc Tết vừa nghiêm vừa đùa. Nó không ở lại thành một tập thơ. Nó ở lại thành một nếp sống. Và nếp đó, hình như mới là “nghiệp” đúng nghĩa.

Những ngã rẽ

Từ Cầu Hai ra Huế: Ba gặp Má, cưới Má, rồi từ Cầu Hai đi ra Huế. Cái rẽ đó, bề ngoài là chuyện lấy vợ, chuyện đi học, chuyện mưu sinh. Nhưng bên trong là một người trai trẻ bước ra khỏi làng xóm quen, mang theo trong người một thứ tin tưởng rất “thời đó”: có chữ thì sẽ sống được. Rồi chiến cuộc kéo tới, quân dịch kéo tới, và Ba bắt đầu học một bài học cay: đời không cho mình đi thẳng theo điều mình muốn. Ba không được đi dạy nữa mà phải đi quân dịch. Biết Ba có tài viết lách nên cấp trên giữ lại làm việc ở văn phòng. Sau đó Ba chạy vạy để ra quân. Rồi sự việc bị phát hiện. Ba phải trốn chạy.

Thay tên, đổi tuổi: Năm 1969, Ba và Má thay đổi tên tuổi để trốn quân dịch, rồi lên Pleiku lập nghiệp. Ba không còn là Nguyễn Văn Lang sinh năm 1941 mà là Nguyễn Duy Tâm sinh năm 1930 và Má không phải là Tôn Nữ Mộng Hoàng, sinh năm 1943 nữa mà thành Tôn Nữ Thiên Phương, sinh 1938. Thay tên đổi tuổi nên Ba Má không có giấy tờ để xin việc. Những ngày đầu ở trọ, buôn bán trên miền thượng, chắt chiu từng chút. Sau đó, nhờ các cha, Ba đi dạy ở trường Minh Đức, rồi cuối cùng xin vào Hội Hồng Thập Tự làm thư ký. 



Cơn ác mộng và một lần tưởng sẽ được trở về: Loạn lạc 1975, gia đình di tản vô Sài Gòn. Ba tưởng như năm 1968: rồi sẽ quay lại được, nên không đem theo tài sản. Nhưng lần này khác. Đất nước thống nhất. Ba không dám về Pleiku nữa. Sài Gòn lại là một thế giới hỗn độn, đầy dẫy những nguy cơ mà người có gia đình rất sợ: sợ bị đối xử bất công, sợ ly tán, sợ con cái bị cuốn đi. Rồi Ba dẫn cả nhà trở về Cầu Hai với hy vọng quê hương sẽ chở che để được sống yên bình. Tâm trạng mà Ba đã viết trong hồi ký: "Lúc bấy giờ gia-đình đang trãi qua cơn ác-mộng kinh-hoàng bỏ cả gia-tài sự-nghiệp từ Pleiku chạy về Saigon và từ Saigon trở lại quê-hương của Ba Má.", "tất cả gia-tài của cải Ba Má dành dụm cho các con qua bao nhiêu năm ở Pleiku đều bị cướp mất hết. Ba má về quê với ít vốn-liếng còn lại cùng với tương-lai mù mịt".

Cái đồng hồ oan nghiệt: Với một người sống chuẩn mực như Ba, giờ giấc không chỉ là thói quen; nó là nếp. Gia đình chỉ có một cái đồng hồ để coi giờ. Bấy giờ có một cán bộ cách mạng nhìn thấy và muốn mua nó. Vậy mà Ba không chịu bán cho một cán bộ đó. Ba bị quy chụp làm cho sở Mỹ, bị gọi đi học tập và lao động ở Trại-Cải-huấn. Má rốt cuộc phải năn nỉ đưa cái đồng hồ ấy để Ba được về nhà. 

Phan Rang và cuộc sống mới: Thấy ở quê không ổn, Ba Má bàn nhau, dắt cả nhà vô Phan Rang để sống. Nơi đó, có vợ chồng người cháu ruột đã sống từ trước nên có thể nương tựa nhau ở nơi đất khách quê người. Rồi lại thêm một nghịch cảnh nữa: Ba biết tiếng Anh lại bị nghi ngờ làm việc cho Mỹ. Ba không xin được việc, bị theo dõi. Mãi tới 1978 Má mới xin được việc cấp dưỡng. Ba thì làm những việc lặt vặt, rồi nhiều năm sau mới xin được một chân hậu cần ở trường Dân tộc nội trú, rồi trường giải thể, lại thất nghiệp.

Nhưng đời mở ra một khe nhỏ vào thời mở cửa: Ba dạy tiếng Anh tư thục. Ba tự học, tự soạn, tự dựng bài giảng. Và kỳ lạ là từ những khúc rẽ tưởng như làm người ta sẽ ngã gục, Ba lại đứng lên bằng đúng thứ Ba mang theo từ đầu: chữ nghĩa và nề nếp.

Sống chuẩn mực

Ba nghèo mà không hèn. Tôi nói câu này nghe có vẻ khẩu hiệu, nhưng sống với Ba mới hiểu nó cụ thể thế nào. Ba có thể làm những công việc dơ bẩn để mưu sinh mà không ngại. Sau 1975, Ba làm nông, làm ruộng. Rồi tới lúc Phan Rang rộ phong trào trồng nho, Ba và Má cũng làm nho, dùng phân bắc làm nguồn phân chính. Hình ảnh Ba Má mở hầm phân múc ra để làm phân bắc vẫn ám ảnh tôi. Một người từng cầm bút, từng học Văn khoa, vẫn có thể cúi xuống làm công việc dơ dáy, những thứ người ta né tránh, miễn sao nuôi được gia đình.

Nhưng Ba không chịu để mình nhếch nhác. Ba ít áo quần, nhưng quần áo phải ủi phẳng. Ba hay mặc chemise, cài manchette. Ra đường phải mang giầy hoặc sandales mà không được lê dép đi. Cái thời khốn khó của bao cấp, không có giầy, Ba làm cho chúng tôi mỗi đứa một đôi dép râu. Đó là những đôi 'sandales' bằng vỏ và ruột xe. Cái nếp đó nhiều khi làm người khác khó chịu, kể cả người trong nhà. Khách tới mà cầm thuốc lá hút trong nhà, Ba không tiếp chuyện. Mời khách ăn mà sợ trễ giờ hẹn, Ba đi lui đi tới thúc vợ, thúc con, như thể chậm một chút là có lỗi với người, với khách.

Ba nghiêm như vậy, nhưng Ba cũng không phải kẻ sĩ kiểu “chỉ biết bàn giấy”. Ba đi làm bốc vác, đạp chiếc xe đạp mini cọc cạch đi mười mấy cây số làm ruộng. Ba tự lượm lặt dụng cụ để tự sửa xe đạp, từ vá ruột đến may triên (tringle métallique: là cái vòng thép nằm ở mép vỏ xe để giữ chặt lốp vào niềng), sửa líp (libre) đến rắc căm (raccorder came: cân căm cho niềng xe). Ba chịu khó đến mức đôi khi làm tôi thấy mình thua xa Ba.  


Có một nếp nhỏ của Ba, nếp mà bây giờ nghĩ lại mới thấy nó nói nhiều về Ba hơn cả những điều lớn lao: giữ mối dây người với người bằng chữ. Cứ mỗi độ Tết đến và Noël về, Ba vẫn trân trọng giữ những giá trị truyền thống và vẻ đẹp của ngôn từ. Tới gần ngày, Ba lại đi dạo phố, tìm kiếm những tấm thiệp ưng ý. Rồi với cây bút, cuốn sổ ghi địa chỉ, ít con tem để dành. Ba ngồi xuống bàn, và cái bàn lúc đó không còn là bàn ăn hay bàn làm việc nữa, mà giống như một chỗ Ba đang sắp đặt lại tình nghĩa. Ba viết chậm rãi, nắn nót, như thể mỗi chữ viết ra là một cách nhắc mình phải tôn trọng, tử tế với người khác. Ba viết thiệp gửi người thân, bạn bè: từ ông Helender ở Thụy Điển cho tới con cháu, đồng nghiệp, đồng niên trong giáo họ; có người cả năm không gặp, vậy mà Tết vẫn nhận được mấy dòng của Ba. Những tấm thiệp, những lời chúc được gửi đi chính là thay Ba thể hiện sự trân trọng, sự chân thành, thể hiện rằng Ba vẫn giữ lễ, nghĩa, vẫn “tôi còn nhớ bạn”, vẫn lưu giữ mối chân tình. Tôi nghĩ cái nếp ấy cũng là “chuẩn mực” theo kiểu của Ba: đời có thể thiếu thốn đủ thứ, nhưng không để phép lịch sự và tình nghĩa bị nghèo theo.

Giấc mơ phóng viên bị đánh mất

Ba mê máy ảnh và có một giấc mơ rất gần với nghề báo. Ba không học báo chí, nhưng ba có cái tâm lý của người muốn ghi lại sự thật: muốn chụp, muốn viết, muốn làm chứng. Ba tự học chụp hình, sắm một chiếc máy ảnh Nikon, sắm cả ống téléobjectif. Với nhà tôi thời đó, nó là thứ xa xỉ, kiểu xa xỉ phải lựa chọn rất lâu mới dám mua. Nhưng Ba mua. Không phải để chơi ngông, mà để làm điều Ba đam mê: ghi lại đời sống bằng hình ảnh, chân thật. Ba hay chở gia đình tới chơi với chú Trọng ở Sư đoàn 6 Không quân, đóng tại phi trường Cù Hanh, Pleiku và tới Hồ Than thở những dịp Không quân biểu diễn để chụp hình máy bay.

Tôi không biết trước 1975 Ba có bài báo nào được đăng hay không, nhưng tôi thấy Ba rất thường chụp hình các chuyến đi cùng Hội Hồng Thập tự. Suốt cuộc di tản, Ba tranh thủ chụp hình. Ba chụp cả những lúc máy bay quần thảo trên đầu, đạn réo hai bên sườn. Tôi có cảm giác Ba muốn làm phóng viên chiến trường thực thụ. Nhiều lúc Má phải leo lên xe theo Ba để kéo Ba xuống. Tôi biết khi chạy loạn vào Sài Gòn, Ba đã viết một bài về cuộc di tản và đem tới các tòa soạn xin đăng. Thời loạn, Sài Gòn hỗn loạn, báo chí cũng hỗn loạn. Không báo nào đăng. Cũng chính vì vậy mà những bức ảnh sống động và khói lửa trong cuộc di tản theo Quân đoàn II cũng không còn được lưu giữ.

Ảnh Ba chụp Trực thăng đang thả cứu trợ cho nạn dân di tản

Tôi thường nghĩ tới cảnh đó: một người vừa chạy loạn xong, vẫn cố giữ chữ nghĩa bằng cách đi gõ cửa tòa soạn, như người ta đi gõ cửa để xin một chỗ cho sự thật. Rồi không ai mở. Cái giấc mơ làm phóng viên của Ba bị mất ở đó. Không có một tiếng “từ chối” rõ ràng. Nó chỉ tan đi trong hỗn độn của loạn lạc, của cuộc chiến. 

Ngoại ngữ: năng khiếu hay biệt tài

Trước 1975, Ba dạy văn ở trường Minh Đức, Pleiku. Ba vào Hội Hồng Thập Tự Pleiku làm thư ký hội, thế sự thay đổi, môi trường buộc dùng tiếng Anh là chính. Sau 1975, việc biết nói tiếng Anh lại thành cái cớ để người ta nghi Ba “làm cho Mỹ”, nên Ba không xin được việc. Một vốn liếng học vấn bỗng trở thành rào cản lớn của cuộc đời. Ba như thất vọng, muốn buông bỏ. Thậm chí có một thời Ba cấm các con học tiếng Anh vì sợ bị giống Ba, bị xã hội ruồng bỏ vì biết ngôn ngữ của phe bên kia.


Đến thời mở cửa, Ba tự nghiên cứu và bắt đầu dạy tiếng Anh theo tài liệu Streamline, dù tiếng Anh không phải ngoại ngữ chính Ba học từ đầu. Người ta gọi Ba là “thầy Tâm” và gọi riết thành tên. Học trò của Ba rất nhiều. Điều làm tôi nể là Ba dạy không theo kiểu “làm cho xong”. Ba sưu tầm tranh ảnh, cắt dán, làm những tập minh họa để học sinh nhỏ dễ hiểu. Ba tự viết rất nhiều “giáo án” cho mình, dù không ai bắt buộc. Nhiều giáo viên ngoại ngữ chính quy viết giáo án như một nhiệm vụ. Còn Ba viết như nó phải có, viết thật: viết để nắm cho chắc, để bài giảng có hồn, có chất, để mỗi tiết học Ba đều kiểm soát được mọi thứ.

Những năm 1990–1992, Ba tham dự workshop dành cho giáo viên tiếng Anh khu vực miền Nam ở Đà Lạt và là một học viên nổi bật. Ba mua rất nhiều sách tiếng Anh: từ tiểu tự điển, đến đại tự điển, từ sách chương trình đến sách nghiên cứu, rồi mua cả tranh ảnh, tạp chí để trau dồi, để làm nguồn tư liệu. Một số học trò tiếp nối nghiệp dạy tiếng Anh của Ba. Ba giữ mãi niềm đam mê, sự tận tâm trong 'nghiệp dạy tiếng Anh' cho đến khi Alzheimer xuất hiện trong cuộc đời Ba, đến khi cả nhà phải ngăn Ba dừng lại.

Niềm đam mê sách

Nếu phải gọi một thứ giúp Ba đứng vững trong nhiều đoạn đời chao đảo, tôi nghĩ đó là sách. Ba mê sách như người ta mê một thứ có thể cứu mình khỏi sự tầm thường. Không phải kiểu mê để làm sang. Mê theo nghĩa nghiêm túc: gặp sách là dừng lại, cầm lên, xem, nhớ, rồi tìm cách mua cho bằng được.

Thời đầu mở cửa, sách hiếm, tiền cũng hiếm. Ba vẫn để dành. Có cuốn Ba gom góp nhiều tháng hay cả năm mới mua được. Sách của Ba đủ thứ, có rất nhiều lĩnh vực. Ba sắp xếp nó như một thư viện thu nhỏ; từ nhóm văn học, lịch sử, bách khoa, ngoại ngữ, tạp chí, rồi nhóm truyện kiếm hiệp, truyện tranh, truyện dã sử, đến nhóm truyện kinh thánh, sách tôn giáo, cả những cuốn giải thích kinh thánh - loại sách thường dành cho các linh mục, tu sĩ. 


Thư viện của Ba chỉ là kệ gỗ được Ba đóng từ những tấm gỗ trường thanh lý. Đa số là sách cũ nhưng chúng đều được Ba 'chăm sóc'. Ba mua giấy kính bao cẩn thận từng cuốn một, bấm ghim lại bốn góc. Đó có lẽ không chỉ là niềm đam mê của Ba mà như là một không gian giúp Ba tĩnh lặng, quay về con người thật của mình, giúp Ba lấy lại năng lượng trong cuộc sống, quên đi những vất vả, lo âu của đời thường. Sách đối với Ba không chỉ để đọc; nó có trật tự, có luật. Ai đụng vào mà để xộc xệch, Ba biết ngay. Ba “xạc” rất nặng, thậm chí cấm cửa, không cho mượn, không cho đụng đến. Có khi anh em tôi bị đòn chỉ vì làm lệch một chồng sách hay để một cuốn sai chỗ. 

Và cũng nhờ vậy, trong một căn nhà không rộng, lúc nào cũng có một góc yên. Không ai nói lớn ở đó. Đi ngang qua kệ sách của Ba, tôi hay có cảm giác như đi ngang qua một thứ rất riêng của Ba: Ba giữ sách như giữ nề nếp. Ba không cho sách bị quăng góc, không cho chồng sách bị xô lệch, không cho ai để sai vị trí, nhét đại vô rồi bỏ đó. Nhiều người nhìn vô sẽ thấy Ba khó. Nhưng sống với Ba lâu rồi mới hiểu: đó là cách Ba giữ một cái trật tự nhỏ trong nhà, khi ngoài kia mọi thứ đã đủ rối.

Con người dí dỏm

Ba nghiêm khắt, nhưng lại một bụng hài hước, thích trêu đùa. Ba trêu theo kiểu của Ba: có lúc tự trào, lúc thì bông đùa để tạo tiếng cười, tạo bầu không khi vui vẻ cho cả nhà, cho mọi người.

Hồi tôi mới bước chân vào trường Y, Ba gửi thư nói Má chuẩn bị có em bé nữa. Má lúc đó đã hơn 55 tuổi rồi. Vậy mà tôi tin sái cổ. Tôi viết thư về an ủi, khuyên nhủ cách chăm sóc trong thời gian mang thai, nghiêm túc như một bác sĩ tương lai đang tư vấn sản khoa. Bây giờ nghĩ lại thấy mình ngu ngơ dễ sợ. Nhưng cái “ngu” đó đến từ một điều khác: tôi tin Ba. Ba nói bằng giọng rất thật, kiểu bịa mà như không bịa.


Một dịp khác vào Mồng Ba Tết, cả nhà đến nhà ông bạn (ông tuổi Dậu, vợ tuổi Dần) chơi, Ba cùng Má hát và chúc Tết bằng một bài thơ rất 'ngộ', nghe xong ai cũng cười:

Gà này quả thật anh hùng
Gà chẳng có cánh có mồng lạ chưa
Gà chỉ có cục thịt thừa
Cọp cái trông thấy là ưa tức thì
Tưởng rằng cọp dữ ai bì
Chọc trời khuấy đất thua chi thứ nào
Cọp la cọp thét cọp gào
Cọp ăn cọp nhảy cọp nhào cọp chơi
Thế mà gà gáy tiếng thôi
Cọp ta chổng đít im hơi nép mình
Quả là thứ cọp thành tinh
Để cho gà đạp lại sinh ra người
Gái trai xấp xỉ đủ mười
Ăn no ngủ khỏe tốt tươi mọi bề
Gà này cũng thứ gà tre
Mai đạp trưa đá tối đè cọp thôi
Càng đạp càng khỏe ai ơi
Tình này chỉ có đất trời biết thôi.

Ba còn có cái tài bịa chuyện mà kể như thật. Lúc anh tôi đi nghĩa vụ ở Campuchia, Ba kể chuyện đi Nam Vang thăm con, kể chi tiết tới mức nhiều người tưởng thật. Ba bịa để trêu, nhưng trong cái trêu đó có một thứ tài năng: tài kể chuyện. Và tôi nghĩ tài kể chuyện ấy nối thẳng về cái nghiệp văn chương của Ba. Ba viết thơ, viết vọng cổ, rồi kể chuyện đêm, rồi bày trò trêu đùa… tất cả chung một gốc: một văn sĩ ẩn mình giữa đời.

Đức tin được dẫn lối

Ba lấy Má, một cô gái Công giáo. Ba không thuộc kiểu "Con quỳ lạy Chúa Ba ngôi, cho con được vợ, con thôi nhà thờ". Hồi đầu, Ba giữ đạo khá lớt phớt. Ở Pleiku, mỗi sáng Chúa nhật, Ba đều chở cả nhà đi lễ, nhưng hầu như tới nơi thì thường đã đến lúc đọc kinh Lạy Cha. Đúng là khua một đám con nít dậy cho kịp đi lễ sáng đâu phải chuyện dễ. Nhưng tôi cảm giác Ba đi lễ chỉ như để Má vui, rồi xong lễ chở cả nhà đi chơi cho thoải mái.

Nhưng biến cố 1975 làm Ba thay đổi. Chúng tôi di tản giữa hai lằn đạn, nhìn người ta mất nhau trong nháy mắt, có những gia đình hôm nay còn đi cùng, hôm sau đã nằm lại vì pháo… Trong cái làn ranh sống chết, người ta tới chỗ chỉ còn biết dựa vào đức tin. Từ đó Ba cầu nguyện nhiều hơn. Và khi cả nhà đi qua được mà vẫn còn nguyên vẹn, niềm tin trong Ba vững hơn, như một thứ đã được thử rồi.

Trong hai bài hồi ký Ba viết về Maria và Anna, tôi nghĩ, là nơi đức tin ấy hiện ra rõ nhất. Ở đó, Ba không viết như người làm văn. Ba viết như một người cha bấu víu vào Thiên Chúa và Đức Mẹ khi đứng trước cái chết của con mình. Có những câu đọc lên nghe rất thật, như một tiếng thở hơn là một câu chữ. Trong bài hồi ký về Maria, có một câu ngắn mà nghe là biết ngay tâm thế của Ba Má lúc ấy: Ba Má “cầu xin Chúa-Mẹ không ngớt” khi thấy con yếu dần. 


Đức tin ấy cũng đi theo Ba vào thơ. Thơ Tết của Ba, dù vui hay “ngộ”, rốt cuộc vẫn hay trở về với ơn trên như một nếp cảm tạ. “Chúa thương ban phát nhiều ân sủng” hay hai câu sau đã đủ thấy niềm tin của Ba. Tất cả đều là thiên ân.

Hạnh phúc bình an Cha dẫn lối,
Tương lai học vấn Mẹ đưa đường.

Về sau, Ba còn có có một thói quen thầm kín: thường tự lái xe xuống Đài Đức Mẹ ở Tấn Tài để cầu nguyện riêng. Không phô trương, không ồn ào. Chỉ đi, đứng đó, rồi về. Tôi luôn nghĩ những giờ cầu nguyện âm thầm đó đã nâng Ba qua nhiều đoạn đời khó nói. Những đoạn mà chữ nghĩa, sách vở, hay cố gắng của con người cũng không đủ.

Và tới cuối đời, khi bệnh tật kéo Ba ra khỏi trần gian. Tôi tin Ba đã được ơn “chết lành”, như người Công giáo chúng tôi vẫn gọi. Tôi không dám giải thích nhiều. Ba được gọi về trong sự thanh thản, như một người đã đi xa, mệt rồi, và cuối cùng được về nhà. Có lẽ chính đức tin đã giúp Ba đi qua những khúc quanh của đời, để tới phút cuối, Ba được về trong bình an.

Nhẹ nhàng rời cuộc chơi

Khi hơn 75 tuổi, Ba tự cho mình là già rồi, dù ngoại hình vẫn còn phong độ. Và từ lúc Ba “nhận già”, Ba xuống phong độ thấy rõ. Chỉ hơn một năm, Ba đi đứng chậm lại. 

Ba mắc Alzheimer, bắt đầu biểu hiện bằng việc thỉnh thoảng nói chuyện đâu đâu, thành ra tôi cũng bắt đầu lảng tránh hàn huyên với Ba. Lúc phát hiện ra, tôi bàn với Má và quyết định không để Ba dạy học nữa. Nó vừa nguy hiểm, vừa buồn. Ba không còn là Ba của thời “thầy Tâm” soạn giáo án dày cộm, sưu tầm tranh ảnh, viết thiệp Tết và Noël. Ba bắt đầu rơi vào một thế giới khác, nơi câu chuyện không còn tuyến tính, nơi ký ức chảy ngược và hỗn độn.

Từ lúc Ba “già” đến lúc mất chừng bảy, tám năm. Trước kia Ba thích chạy xe khắp nơi để xem phố xá đổi thay; vậy mà giờ Ba lại ru rú ở nhà, không muốn đi đâu. Như thể chỉ cần Ba chấp nhận cái chữ “già”, đời liền trùm lên Ba một tấm chăn nặng, đắp dần, đắp dần lên từ chân. Thời gian đó, Ba hay nhớ về con cái. Gặp đứa này lại hỏi đứa kia. Ba quan tâm nhất có lẽ là anh Kha, nên cứ hỏi thăm anh suốt. Và vì Ba hay hỏi, nên tuần nào chúng tôi cũng cố về thăm Ba Má. Tôi đi làm ngang qua nhà, thành ra tuần ghé bốn, năm lần và tuần nào cũng chở các con lên thăm ôn.

Những năm cuối đời, Alzheimer của Ba nặng dần. Tôi ngày càng ít nói chuyện với Ba. Không phải vì hết thương, mà vì càng nói càng bất lực. Ba nói hiếm khi trọn câu. Ba mới đi được nửa chừng là câu rớt xuống, ý rơi đâu mất. Có lúc Ba nhìn tôi, mắt như đang tìm một chữ để bắc qua, mà chữ không tới. Tôi ngồi nghe, rồi nhận ra mình không hiểu Ba đang nói gì nữa. Đôi khi tôi trả lời Ba một cách bâng quơ vì cho rằng Ba cũng không hiểu mình nói gì. Có lẽ tôi đã không cảm hết sự bực bội, khó chịu của Ba vì không thể diễn đạt được ý mình, vì không thể kết nối với gia đình, với xã hội nữa. Cảm giác đó giống như đứng trước một cánh cửa quen thuộc của nhà mình, đưa tay lên nắm, và bỗng nhiên… không mở được. Mình vẫn đứng đó, vẫn biết bên kia là Ba, mà đường đi giữa hai người đã bị đời lặng lẽ rút mất.

Ba còn bị Parkinson. Những bước chân vốn từng nhanh nhẹn, từng chở Má đi làm, từng không chiều ngồi yên mà thích chạy xe vòng vòng xem phố xá đổi thay, dần dần chậm lại, nhỏ lại, mỏi mệt. Rồi những tháng cuối, Ba nằm liệt giường. Từ ăn uống tới vệ sinh, Má chăm hết. Tôi nhìn Má mà lòng se lại. Có những việc người ta thương nhau không cần nói, chỉ cần làm. Má làm từng việc nhỏ, ngày này qua ngày khác, âm thầm chịu đựng, âm thầm sẻ chia khó khăn cùng Ba. Tôi nghĩ, tình nghĩa vợ chồng ở tuổi bóng xế đôi khi chính là sống có nghĩa với nhau, không còn là những câu hoa mỹ, mà là đôi tay gầy vẫn chịu ở lại, lau chùi, đút từng muỗng, canh từng cơn ho, như canh một ngọn đèn sắp tắt mà vẫn muốn nó sáng thêm chút nữa.

Trong những năm đó, Ba hay nhớ con cái. Gặp đứa này hỏi đứa kia. Ba hỏi anh Kha nhiều nhất. Vì Ba hay hỏi nên anh em tôi cố về thăm thường xuyên. Tôi đi làm ngang qua nhà, thành ra tuần ghé bốn, năm lần. Nhiều lần tôi không biết nói gì với Ba nữa. Tôi chỉ ngồi đó, nhìn Ba, nhìn Má. Và cái “ngồi đó” tự nó đã thành một câu: con vẫn về, con vẫn ở đây, dù con không biết phải nói gì để Ba hiểu.

Ba ra đi rất thanh thản, cái chết lành mà người Công giáo chúng tôi hay gọi. Chúa gọi Ba về vào buổi sáng ngày 26/01/2024, nhằm ngày 16 tháng Chạp năm Quý Mão. Dạo đó trước nhà đang làm đường, bụi mù vì đường bị cày xới. Rồi đúng lúc đường vừa trải nhựa xong, Ba đi. Tôi không biết gọi đó là trùng hợp hay một kiểu sắp đặt dịu dàng. Chỉ thấy mọi thứ như khép lại đúng lúc: cả nhà lo xong tang lễ, rồi vẫn kịp bước qua Tết. Cái Tết đầu tiên không còn Ba. Nhưng lạ là, sự ra đi của Ba không làm gia đình xáo trộn. Có lẽ vì Ba đã sống cả đời bằng nề nếp, nên đến lúc đi, sau một cuộc chơi nhiều đoạn gập ghềnh, Ba đi trong một khoảnh khắc yên bình, ra đi trong nề nếp: nhẹ, gọn, như một người đã làm tròn bổn phận mình, để lại cho con cái một mái nhà vẫn đứng vững và một khoảng trống im lặng. Một đời lận đận, bụi bặm, xới tung, rồi tới đoạn cuối bỗng phẳng lại một chút và Ba chọn đi.

Ảnh hưởng của Ba

Tôi viết đến đây mới thấy, ảnh hưởng của Ba lên tôi không nằm ở những bài học Ba ngồi giảng. Ba ít khi “dạy” bằng lời. Ba dạy bằng nếp. Nếp sống của Ba đi vào nhà như một thứ quy định tự nhiên: đã vào nhà thì phải ngay ngắn; đã ra đường thì phải đàng hoàng; đã sống thì đừng sống qua loa.

Và nếp đó không chỉ “nhiễm” vào một mình tôi. Nó “nhiễm” vào cả anh em tôi theo những cách khác nhau. Không ai trong năm anh em có ngoại hình giống Ba rõ rệt. Chú Tài cao hơn, còn lại thì lùn hơn Ba, gương mặt cũng chẳng ai giống. Nhưng cái giống của con cái với cha mẹ đôi khi nằm ở chỗ khác: mỗi người nhìn lại sẽ tự thấy mình giống Ba ở một vài điểm, như thể Ba chia mình ra thành nhiều mảnh rồi để lại rải rác trong từng đứa.


Anh Bang làm giáo viên Toán – Lý, chị Tuyến làm giáo viên Văn; hai người đó lại “theo” Ba ở một mạch rất Ba: học và dạy tiếng Anh. Riêng chị Tuyến, tôi vẫn nghĩ có thể gọi là truyền nhân của Ba. Chị vừa là giáo viên Văn, vừa có một thời gian dài được Ba kèm riêng cách viết lách, cách dựng bài, cách giữ chữ. Về sau chị dạy Văn uy tín ở trường, học trò theo học khá đông, ngay cả lúc chị đã về hưu. Nhìn chị, tôi thấy cái “Văn khoa” của Ba không mất; nó chỉ đổi hình, đi qua một đời khác.

Chú Tài thì lại giống Ba ở một điều mà trước kia tôi không để ý: sự bền bỉ ở bên cạnh. Những năm Ba “đã già”, chú Tài thường ở cạnh Ba. Dù tôi làm bác sĩ, người chăm sức khỏe Ba nhiều nhất lại là chú Tài. Cái chăm đó không cần nói nhiều. Nó là thứ hiện diện hàng ngày, chịu khó, và không bỏ cuộc. Một thứ “đạo hiếu” rất lặng, rất đúng kiểu người nhà.

Còn tôi, tôi “nhiễm” Ba ở lối sống và ở sách. Tôi mê sách. Tôi bọc sách kỹ. Tôi khó chịu khi thấy sách bị quăng góc. Tủ sách gia đình về sau chủ yếu là của Ba và tôi sưu tầm. Tiếc là tôi không có điều kiện để có một tủ sách đúng nghĩa, để thừa hưởng trọn vẹn “thư viện” của Ba như một căn phòng riêng. Nhưng cái thói quen coi sách là một thứ phải nâng niu, tôi vẫn giữ. Tôi cũng tự viết sách và tự in sách như Ba đã làm, nhưng là sách ngành y—một kiểu “cầm bút” khác, khô hơn, ít thơ hơn, nhưng vẫn là cầm bút.


Và tôi vẫn giữ trang phục theo lời Ba dạy: áo chemise cài manchette, mặc áo lót trong, ra đường thì bỏ áo vào quần, mang giầy hay sandales. Tôi biết có người sẽ thấy đó là hình thức. Nhưng với tôi, đó là một dấu chỉ: tôi vẫn còn ở trong cái nếp Ba đã dựng.

Có một chi tiết nhỏ nhưng làm tôi thấy rõ nhất cái ảnh hưởng ấy: mỗi lần anh em tụ họp ở nhà Ba Má, kể cả lúc Ba đã mất, mọi người đều không hút thuốc. Không ai bảo ai. Chỉ là tự nhiên như vậy. Có những thứ Ba nói một lần là đủ. Có những thứ Ba không nói, nhưng nếp nhà nói hộ.

Di sản

Di sản của Ba không phải thứ đặt lên bàn, một thứ có thể nhìn thấy, có thể lượng giá. Di sản của Ba càng không phải là nhà cửa, là tiền bạc, là những tác phẩm đáng giá để lại. Nó là thứ phải sống, phải ngẫm, phải trải nghiệm mới nhận ra.

Di sản rõ nhất của Ba chính là con cái, không phải theo nghĩa “truyền sinh” mà theo nghĩa Ba Má đã định hướng và dựng nếp cho chúng tôi. Năm anh chị em chúng tôi, hai người làm giáo viên, một người học sư phạm rồi làm hành chính, tôi thì ngành y mà rốt cuộc cũng có mấy năm dạy trường trung cấp y tế. Dâu rể cũng có ba người là giáo viên. Anh Bang và chị Tuyến còn là giáo lý viên chủ chốt trong giáo xứ. Thành ra sinh hoạt, nề nếp trong gia đình tự nhiên mang dáng dấp của một tầng lớp trí thức: coi trọng chữ nghĩa, coi trọng giờ giấc, coi trọng cách cư xử, coi trọng việc “ở cho ra ở”.


Di sản của Ba còn nằm ở cái phong cách sống: nghèo nhưng không hèn, cực nhưng không buông. Ba là người bàn giấy, người cầm bút nhưng không ngại làm nông, bốc vác, làm những việc dơ bẩn để mưu sinh. Ba giữ một thứ kỷ luật đôi khi làm người khác khó chịu: sự ngay ngắn, sự đúng giờ, sự tôn trọng không gian của người khác, và một ranh giới rõ ràng về phẩm cách. Có thể ai ở ngoài sẽ thấy Ba “khó”, nhưng ai ở trong nhà sẽ hiểu: cái khó đó đã giữ nhà tôi khỏi bị phân rã, khỏi bị nhiễm bẩn từ bên ngoài.

Ba để lại một “tủ sách” không chỉ bằng giấy, mà bằng thói quen đọc và tự học. Ba để lại cho tôi cái cảm giác rằng ngoại ngữ không phải để làm sang, mà là một cây cầu. Ba để lại một cách dạy học nghiêm túc: tự soạn bài, tự làm minh họa, tự viết giáo án như viết một bài văn, không phải vì ai bắt, mà vì Ba không chịu làm qua loa.

Ba cũng để lại một giấc mơ phóng viên bị đánh mất. Nhưng cái tinh thần muốn ghi lại sự thật thì không mất. Nó nằm trong những bức ảnh Ba chụp, trong những dòng Ba từng viết, và cả trong cái cách tôi bây giờ vẫn muốn viết cho ra hồn, dù có lúc tôi bận và phân tâm đến mức sợ mình không còn viết được như trước.

Và cuối cùng, Ba để lại một điều rất khó gọi tên: một ngọn lửa nhỏ của chữ nghĩa và nề nếp trong gia đình. Ngọn lửa đó không rực rỡ. Nhiều khi nó chỉ đủ ấm. Nhưng có lẽ vậy là đủ. Vì nhờ nó, con cái Ba lớn lên không chỉ để “kiếm sống”, mà còn để giữ một kiểu sống. Nhờ nó, tôi vẫn còn muốn viết về Ba, không phải để tưởng nhớ suông, mà để nhìn kỹ lại: hóa ra có những di sản nằm ngay trong chính chúng tôi, nếu không ngẫm thì tưởng như “chẳng có gì”.

Có lẽ tôi nên viết sớm hơn, lúc Ba còn đọc được, còn hiểu được. Nhưng tôi là con trai, không quen nói lời yêu thương, lời biết ơn. Tôi cứ để vậy. Đến khi Ba không còn đọc được nữa, tôi mới viết. Và tôi vẫn viết, vì tôi sợ một điều: nếu không nói ra, rồi sẽ có ngày nhìn lại, tôi sẽ day dứt.









Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

LÊN ĐẦU TRANG